Hàng nhập khẩu để gia công cho thương nhân nước ngoài, để sản xuất hàng xuất khẩu, hàng tạm nhập tái xuất thường không phải kiểm tra chất lượng như hàng nhập để bán, vì chúng không đi vào thị trường Việt Nam. Khi mục đích thay đổi, tức hàng hoặc thành phẩm được chuyển sang bán trong nước, lý do miễn không còn, và nghĩa vụ hợp quy với hàng thuộc diện quy chuẩn phát sinh như hàng nhập để kinh doanh.
Đây là tình huống liên ngành điển hình: thủ tục hải quan chuyển mục đích sử dụng đi một đường, nghĩa vụ chất lượng đi một đường, và hai đường gặp nhau ở chỗ hàng chỉ được bán khi cả hai đã xong. Bài này giải thích các trường hợp hay gặp, thứ tự việc cần làm và những điểm hay vướng. Thủ tục hải quan và thuế khi chuyển mục đích thuộc mảng khác, ở đây chỉ nhắc để thấy chỗ giao nhau.
Vì sao hàng gia công và sản xuất xuất khẩu thường được miễn khi nhập
Quản lý chất lượng hàng nhập nhằm bảo vệ người dùng ở Việt Nam. Nguyên liệu, linh kiện nhập để gia công hoặc để sản xuất hàng xuất khẩu không đến tay người dùng trong nước: chúng được biến thành thành phẩm và đi ra nước ngoài, nơi thành phẩm phải đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Hàng tạm nhập để triển lãm, để thi công dự án rồi tái xuất cũng không lưu thông trên thị trường.
Vì vậy, các văn bản về kiểm tra chất lượng hàng nhập thường liệt kê những nhóm này trong diện miễn kiểm tra khi nhập, kèm điều kiện. Danh sách miễn và điều kiện đã được sửa nhiều lần; bạn đối chiếu văn bản hiện hành cho đúng nhóm hàng của mình.
Điều kiện chung của các trường hợp miễn này là hàng được dùng đúng mục đích đã khai. Một khi mục đích đổi, từ xuất khẩu sang bán trong nước, điều kiện miễn không còn. Đây là gốc của mọi nghĩa vụ phát sinh sau đó.
Cũng cần phân biệt chuyển mục đích với tiêu thụ nội bộ hợp lệ. Nguyên liệu dùng hết vào thành phẩm xuất khẩu, phế liệu, phế phẩm xử lý theo quy định là chuyện của quyết toán hải quan. Nghĩa vụ hợp quy chỉ thật sự đặt ra khi một sản phẩm, linh kiện hay nguyên liệu thuộc diện quy chuẩn được đem bán, cho, tặng hoặc đưa vào sử dụng trên thị trường trong nước.
Những tình huống chuyển mục đích hay gặp
Bảng dưới đây liệt kê các tình huống thực tế và câu hỏi về hợp quy cần đặt. Thủ tục hải quan đi kèm mỗi tình huống bạn làm theo hướng dẫn của cơ quan hải quan quản lý hợp đồng hoặc tờ khai.
| Tình huống | Hàng đem bán trong nước là gì | Câu hỏi hợp quy |
|---|---|---|
| Nguyên liệu, linh kiện dư sau gia công | Nguyên liệu, linh kiện | Bản thân nguyên liệu, linh kiện có thuộc diện quy chuẩn khi bán riêng không |
| Thành phẩm dư, hàng bị khách nước ngoài từ chối | Thành phẩm | Thành phẩm có thuộc diện quy chuẩn Việt Nam không, đã đạt chưa |
| Hàng xuất khẩu bị trả về | Thành phẩm sản xuất trong nước quay lại | Được xem như hàng gì, phải đánh giá theo quy chuẩn nào |
| Máy móc tạm nhập cho dự án, muốn bán lại | Thiết bị đã qua sử dụng | Thiết bị có thuộc diện quy chuẩn hoặc quy định về hàng đã qua sử dụng không |
| Hàng tạm nhập triển lãm, khách muốn mua lại | Hàng mẫu, hàng trưng bày | Hàng có thuộc diện không, lấy mẫu từ đâu khi số lượng ít |
Điểm chung: hàng chuyển sang bán trong nước phải đáp ứng quy chuẩn Việt Nam như mọi hàng hoá khác trên thị trường. Việc hàng ban đầu được sản xuất theo tiêu chuẩn của khách nước ngoài không tự động có nghĩa là đạt quy chuẩn Việt Nam.
Thứ tự việc cần làm khi chuyển sang bán trong nước
Thứ tự dưới đây là khung tham khảo. Mỗi bước cụ thể, đặc biệt phần hải quan và thuế, bạn làm theo hướng dẫn hiện hành của cơ quan quản lý.
- Xác định chính xác hàng sẽ đem bán: nguyên liệu, linh kiện hay thành phẩm; model, số lượng, tình trạng.
- Tra xem hàng đó có thuộc diện quy chuẩn và danh mục kiểm tra không, ở trạng thái hiện tại chứ không phải trạng thái lúc nhập.
- Hỏi cơ quan hải quan về thủ tục chuyển mục đích sử dụng, chuyển tiêu thụ nội địa và chính sách mặt hàng áp dụng tại thời điểm chuyển.
- Nếu thuộc diện quy chuẩn: đăng ký kiểm tra hoặc làm chứng nhận theo hướng dẫn của cơ quan kiểm tra, lấy mẫu, thử nghiệm.
- Khi đạt: công bố hợp quy nếu quy định yêu cầu, gắn dấu hợp quy, làm nhãn hàng hoá tiếng Việt đầy đủ.
- Chỉ đưa hàng ra bán sau khi cả thủ tục hải quan lẫn nghĩa vụ chất lượng đã hoàn thành; lưu hồ sơ liên kết hai phần.
Nhiều doanh nghiệp làm xong phần hải quan rồi mới nhớ tới phần chất lượng, hoặc ngược lại. Lập một danh sách hai cột cho mỗi lô chuyển mục đích giúp không bỏ sót.
Những điểm hay vướng
Hàng làm theo tiêu chuẩn của khách nước ngoài. Đồ điện làm cho thị trường dùng điện áp khác, đồ chơi làm theo yêu cầu nhãn và cảnh báo của nước khác. Về kỹ thuật có thể vẫn an toàn, nhưng có chỗ không khớp quy chuẩn Việt Nam, ví dụ điện áp danh định, phích cắm.
Thiếu nhãn tiếng Việt và thông tin nhà chịu trách nhiệm. Hàng xuất khẩu có nhãn theo nước nhập. Khi bán trong nước phải có nhãn đúng quy định Việt Nam, ghi tổ chức chịu trách nhiệm tại Việt Nam.
Số lượng ít, nhiều mã. Hàng dư thường là vài trăm chiếc của mỗi mã, mã nào cũng ít. Chi phí thử cho từng mã có thể vượt giá trị hàng. Cân nhắc kỹ trước khi quyết định bán trong nước.
Hàng bị khách từ chối vì lỗi chất lượng. Lý do khách từ chối là tín hiệu quan trọng. Hàng bị từ chối vì lỗi an toàn khó qua được phép thử ở Việt Nam, và đem bán là rủi ro với người dùng.
Nhầm rằng hàng sản xuất ở Việt Nam thì không cần làm gì. Hàng do chính doanh nghiệp làm ra ở Việt Nam vẫn phải hợp quy nếu thuộc diện, theo cơ chế cho hàng sản xuất trong nước.
Ví dụ giả định: lô máy sấy tóc dư từ đơn hàng xuất khẩu
Một công ty ở Bắc Ninh gia công máy sấy tóc cho khách hàng châu Âu. Sau khi giao đủ, còn dư khoảng tám trăm chiếc thuộc ba model, do khách giảm đơn ở phút chót. Công ty muốn bán số này trong nước qua một nhà phân phối.
Bước đầu tiên họ làm là kiểm sản phẩm có khớp với điều kiện Việt Nam không. Máy được thiết kế cho điện áp và phích cắm của thị trường châu Âu, phích cắm khác loại phổ biến ở Việt Nam. Hướng dẫn và nhãn chỉ có tiếng nước ngoài. Máy sấy tóc thuộc nhóm thiết bị điện gia dụng mà họ xác định là thuộc diện quy chuẩn an toàn điện, nên cần chứng nhận trước khi bán.
Họ cân nhắc ba phương án: thay dây nguồn có phích cắm phù hợp rồi gửi thử ba model; bán lại cho một khách ở thị trường cùng tiêu chuẩn điện; hoặc trả lại theo thoả thuận với khách gia công. Tính chi phí thử ba model, thay phích, làm nhãn, cộng thủ tục chuyển tiêu thụ nội địa, phương án bán trong nước chỉ hoà vốn cho một model có số lượng lớn nhất. Họ chọn làm hợp quy cho model đó và bán hai model còn lại sang thị trường khác. Quyết định được đưa ra trong tuần đầu, trước khi phát sinh thêm phí lưu kho.
Doanh nghiệp chế xuất và hàng bán vào nội địa
Doanh nghiệp chế xuất có cơ chế hải quan riêng: hàng bán từ doanh nghiệp chế xuất vào thị trường trong nước được xem như hàng nhập khẩu theo quy định hải quan. Về chất lượng, điều đó thường có nghĩa là bên mua trong nước, người đứng tên nhập khẩu theo tờ khai, phải thực hiện nghĩa vụ như với hàng nhập: đăng ký kiểm tra nếu thuộc diện, có chứng nhận, công bố hợp quy theo quy định.
Bên mua trong nước nên làm rõ với doanh nghiệp chế xuất trước khi mua: hàng có thuộc diện quy chuẩn không, có sẵn báo cáo thử nghiệm không, có hỗ trợ cung cấp mẫu và hồ sơ kỹ thuật không. Hợp đồng nên ghi rõ bên nào chịu chi phí nếu hàng không đạt.
Doanh nghiệp chế xuất muốn bán thành phẩm vào thị trường trong nước một cách thường xuyên thì nên chủ động làm chứng nhận cho các model sẽ bán, để khách hàng trong nước có sẵn hồ sơ, rút ngắn thời gian mỗi lô.
Khi nào nên dừng lại và tính phương án khác
Không phải mọi lô hàng dư đều đáng chuyển sang bán trong nước. Nếu chi phí thử nghiệm, chứng nhận, làm nhãn, cộng với thuế và thủ tục khi chuyển mục đích lớn hơn giá trị bán được, phương án tái xuất, trả lại khách, bán cho thị trường khác hoặc tiêu huỷ theo quy định có thể hợp lý hơn. Bài toán này nên làm ngay khi biết hàng dư, không đợi tới cuối năm khi phải quyết toán.
Một điểm nữa là thời hạn. Hợp đồng gia công, loại hình sản xuất xuất khẩu và hàng tạm nhập đều có mốc quyết toán, mốc tái xuất. Để quá các mốc này rồi mới tính chuyện bán trong nước thì phần hải quan thường phức tạp hơn nhiều, và trong lúc chờ xử lý, hàng vẫn không được bán.
Với tình huống phức tạp, ví dụ hàng giá trị lớn, nhiều mã, liên quan quyết toán hợp đồng gia công hoặc đã bị cơ quan chức năng hỏi về việc bán trong nước khi chưa làm thủ tục, bạn nên hỏi luật sư trên AI Cố Vấn hoặc người làm nghề hải quan, chất lượng để được xem cụ thể. Việc tự xử lý sai thứ tự có thể kéo theo cả rủi ro hải quan lẫn rủi ro chất lượng.
Câu hỏi thường gặp
Nguyên liệu nhập để sản xuất xuất khẩu có phải hợp quy khi nhập không?
Thường được miễn kiểm tra chất lượng khi nhập, vì không đưa vào thị trường trong nước, với điều kiện dùng đúng mục đích đã khai. Danh sách miễn và điều kiện cụ thể bạn đối chiếu văn bản hiện hành về kiểm tra chất lượng hàng nhập khẩu.
Thành phẩm dư từ hợp đồng gia công có được bán trong nước ngay không?
Không. Cần làm thủ tục chuyển mục đích với hải quan theo quy định, và nếu thành phẩm thuộc diện quy chuẩn thì phải hoàn thành nghĩa vụ hợp quy, nhãn hàng hoá trước khi bán. Chỉ khi cả hai phần xong mới được đưa ra thị trường.
Hàng xuất khẩu bị trả về có phải đánh giá lại theo quy chuẩn Việt Nam không?
Nếu muốn bán trong nước và hàng thuộc diện quy chuẩn thì cần đáp ứng quy chuẩn Việt Nam. Cách đánh giá cụ thể, như xem là hàng sản xuất trong nước hay hàng tái nhập, hỏi cơ quan kiểm tra để làm đúng thủ tục.
Máy móc tạm nhập cho dự án muốn bán lại trong nước thì cần gì?
Ngoài thủ tục chuyển tiêu thụ nội địa với hải quan, cần xem thiết bị có thuộc diện quy chuẩn, thuộc diện kiểm định an toàn hoặc quy định riêng về thiết bị đã qua sử dụng không. Mỗi lớp có cơ quan và thủ tục riêng.
Mua hàng của doanh nghiệp chế xuất thì ai làm hợp quy?
Theo cơ chế hải quan, bên mua trong nước thường đứng tên như người nhập khẩu, nên nghĩa vụ kiểm tra chất lượng và hợp quy thường thuộc bên mua. Hai bên nên thoả thuận rõ về hồ sơ kỹ thuật, mẫu thử và chi phí khi hàng không đạt.
Hàng dư số lượng ít có cách nào đỡ tốn chi phí thử không?
Có thể hỏi tổ chức chứng nhận về phương thức theo lô với số mẫu phù hợp, hoặc dùng lại báo cáo thử nghiệm có sẵn nếu được chấp nhận. Nếu chi phí vẫn vượt giá trị hàng, nên cân nhắc tái xuất hoặc bán cho thị trường khác.